Chào mừng các bạn ghé thăm Website Yến Sào Tầm Cao Việt.Cty chúng tôi Chuyên tư vấn và lắp đặt thiết bị nhà nuôi yến, chúng tôi đã không ngừng nâng cao tay nghề và kỹ thuật nhằm mục tiêu phát triển ngành nuôi yến trong nhà trở thành một trong những ngành kinh tế mang lại thu nhập cao và ổn định tại Việt Nam. Áp dụng công nghệ mới về nghề nuôi yến của một số nước phát triển như Indonesia, Malaysia, v.v…kết hợp cùng kinh nghiệm thực tiễn trong việc thiết kế, thi công, lắp đặt thành công các nhà nuôi yến cho các đối tác tại Việt Nam

Họ Yến

CHIM YẾN: Chim yến nói chung là loài chim thuộc họ Apodidae (theo tiếng la tinh nghĩa là "không chân"). Chim yến có đặc trưng là chân không phát triển như chim én, rất yếu ớt không thể đậu được trên dây điện ...nhưng có khả năng bay cao và có thể bay lượn liên tục trong không trung suốt cả ngày. Chim yến chỉ bắt và ăn côn trùng trong khi bayNói chung tổ của loài chim yến có nhiều loại như :rêu, cỏ lông, lá cây và một vài vật liệu khác được gắn kết bằng nước bọt. Dù trong hang hay trong nhà tối, với vô số Tổ Yến chi chít san sát nhau rất khó phân biệt, nhưng chim Yến luôn cùng nhau về đúng tổ của mình, không bao giờ “ông nọ bà kia” gây mất tình đoàn kết. Khi một con chết đi, thì con kia cũng không đi bước nữa, mà sống cô độc đến khi nhắm mắt xuôi cánh.
  Trên toàn thế giới có tất cả 98 loài chim yến, nhưng Việt Nam ta có 1
2 loài yến như: yến đuôi cứng lớn, yến đuôi nhọn họng trắng, yến đuôi nhọn lưng bạc, yến cọ, yến cằm trắng, yến hàng, yến hông trắng, yến hông trắng cốc ki, yến hông xám, yến mào, yến núi, yến núi đuôi rộng.
CHIM ÉN (chim nhạn): Cánh dài, nhọn, gần như thẳng nhưng ngắn và rộng hơn, vẫn bay lượn trên bầu trời ở tầm thấp nhưng bay chậm hơn so với các loại chim yến, chim én bay lượn có lúc với đôi cánh khép, đóng một nửa, không giống như chim yến hay bay lượn với đôi cánh như lưỡi liềm dang rộng hết cỡ. Chim én có đôi chân khỏe mạnh, có thể đậu xuống trên cây, dây điện, ăngten...Chân chim én có ba ngón phía trước, một ngón phía sau, lông nói chung có màu xanh dương ngã sang màu đen. Tổ làm từ bùn(sình), đất sét hoặc cỏ cây. Thức ăn là côn trùng trong khi bay đôi khi cũng đậu trên mặt đất để bắt côn trùng.

Yến Đuôi Cứng Lớn
YẾN ĐUÔI CỨNG LỚN:
Một điểm đen lớn ở trước mắt, trước điểm này có một điểm trắng. Trán, đỉnh đầu, cổ, cánh, trên đuôi, đuôi, hai bên lưng và hông đen hơi có ánh thép xanh. Giữa lưng nâu, lẫn dần bởi màu đen ở xung quanh. Dưới đuôi một vệt ở sườn, phía trên đùi trắng. Phần còn lại của mặt bụng nâu thẫm, phần gốc của các lông ở cằm và họng hơi nhạt hơn và thường lộ ra ngoài. Lông đuôi vuốt nhọn dần chứ không tròn. Mắt nâu thẫm đen. Chân xám hồng hay nâu đỏ.



Yến đuôi nhọn họng trắng
YẾN ĐUÔI NHỌN HỌNG TRẮNG:
Chiều dài trung bình khoảng 20 cm (sải cánh 50 cm). Yến đuôi cứng là loài bay khỏe, thân tròn, gốc cánh rộng, đuôi vuông và ngắn, các lông đuôi cứng. Đây là loại di cư ít gặp. Bay lượn kiếm ăn trên các vùng rừng và đất rừng trống trải.







Yến Đuôi Nhọn Lưng Bạc
YẾN ĐUÔI NHỌN LƯNG BẠC:
Một điểm hình tam giác trước mắt và các lông quanh mắt đen. Đỉnh đầu, hai bên đầu, cổ, hai bên hông, trên đuôi và đuôi đen có ánh lục và xanh. Lưng nâu thẫm, ở giữa màu nhạt hơn, hai bên thẫm hơn và lẫn dần với màu đen ở xung quanh. Lông cánh đen có ánh xanh, phiến ngoài của lông cánh tam cấp có ánh lục phần lớn phiến lông trong trắng.
Cằm và họng xám. Dưới đuôi trắng. Hai bên sườn có điểm trắng. Phần còn lại của mặt bụng nâu thẫm. Lông đuôi tròn, mút thân lông lồi ra ngoài thành gai. Mắt nâu thẫm. Mỏ đen. Chân đen hay xám phớt đỏ.

Yến Co
YẾN CỌ:
Chiều dài trung bình khoảng14-16cm, mặt lưng nâu đen nhạt, cánh và đuôi nâu hơi có ánh thép. Mặt bụng nâu thẫm, cằm và họng hơi nhạc hơn, mắt nâu thẫm, mõ và chân đen. Chúng thường làm tổ trên các lá cau, lá cọ,  tháp nước hay hiên nhà, chất liệu tổ cỏ hay đất sét.







Yến Càm Trắng
YẾN CẰM TRẮNG:
Chiều dài trung bình khoảng 14-15cm, một điểm đen phía trước mắt với một dải hẹp màu xám nhạt ở phía trên. Đầu, lưng, cánh, và đuôi nâu đen nhạt, trừ dải ở trán nâu nhạt. Lông cánh viền màu nhạt rất mảnh. Một dải trắng rộng chạy qua hông, thân lông thường có vạch nâu thẫm. Cằm và họng trắng, thân lông thường màu thẫm. Phần còn lại của mặt bụng nâu đen nhạt. Mắt đen thẫm. Mỏ đen. Chân nâu hồng hay đen phớt đỏ. Tổ như chim yến hàng.






Yến Hàng
YẾN HÀNG:
Chiều dài trung bình khoảng 10-16cm, Đầu cánh và đuối đen đậm. Lưng nâu đen, mặt bụng màu nhạt hơn lưng. Có một băng sáng rộng ở hông, thân lông tối ở lưng có lông tơ màu trắng. Đôi khi có một vài lông nhỏ ở mặt trong giò. Mắt đen, mỏ đen. Tổ có giá trị xuất khẩu cao. Có giá trị kinh tế và khoa học.






Yến Hông Trắng
YẾN HÔNG TRẮNG:
Chiều dài trung bình khoảng 17-19cm, mặt lưng, cánh và đuôi nâu đen nhạt, lưng, trên đuôi và bao cánh hơi có ánh thép, một dải trắng rộng chạy qua hông, thân lông ít nhiều có vạch nâu đen. Cằm và họng trắng nhạt, với vạch đen rất mảnh ở thân lông. Lông của phần còn lại ở mặt bụng nâu viền trắng, với một dải gần mút màu thẫm hơn. Mắt nâu thẫm. Mỏ đen. Chân nâu hồng hay đen phớt đỏ.





Yến Hông Xám
YẾN HÔNG XÁM:
Chiều dài trung bình khoảng 13,5cm, long mặt lưng nâu đen nhạt, cánh, đuôi và đỉnh đầu thẫm hơn; một dải rộng màu xám ngang qua hông với thân lông có vạch đen. Lông mặt bụng nâu, phớt xám. Ở chim non, các thân lông ở mặt bụng màu thẫm. Giò trần. Mắt nâu. Mỏ đen. Chân nâu. Tổ có giá trị kinh tế cao.





Yến Núi


YẾN NÚI:
Chiều dài trung bình khoảng 14cmĐỉnh đầu, cánh, đuôi đen đậm. Lưng nâu đen ở bụng màu nhạt hơn lưng. Có băng sáng rộng ở hông, dọc thân lông tối. Lông tơ ở lưng có chóp trắng. Đuôi trẻ khá sâu, có một hàng lông ở giò ngoài.Tổ gồm lông và bông cỏ rất ít nước bọt. Tổ này không ăn được, mà chỉ dùng làm thuốc chữa bệnh.